Phân tích thị trường vàng Việt Nam

Vàng có một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của người dân cũng như nền kinh tế Việt Nam trong nhiều năm nay. Việt Nam từng đi qua chiến tranh, tình trạng lạm phát cao, sự bất ổn định kinh tế và sự phá giá đồng tiền, do đó mà vàng được tin tưởng nhiều hơn so với đồng VND. Bên cạnh đó, vàng cũng là một loại tài sản ưa thích không chỉ của người dân Việt Nam mà cả các nước châu Á khác. Dưới đây là bài phân tích thị trường vàng Việt Nam qua một số thời kỳ.


 Trước năm 1975, vàng được sử dụng là vật trung gian trao đổi hoặc đơn vị đo lường. Vào những năm 1960, một chiếc xe máy Honda Cub có giá 3 lượng vàng và lương một tháng của quan chức chính phủ cấp cao bằng giá trị của hai lượng vàng (1 lượng = 37,5g)

Vàng Kim Thành (có độ tinh khiết 99,99%), một nhãn hiệu vàng nổi tiếng tại Đông Nam Á thời kì trước và trong chiến tranh Việt Nam (01/11/1955-30/04/1975), được sử dụng là một phương tiện trao đổi và phương tiện cất trữ giá trị. Sau chiến tranh Việt Nam, những thỏi vàng Kim Thành và vàng Thuỵ Sĩ đã được sử dụng là tài sản mang theo của các thuyền nhân và những người tị nạn khác.

Sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam trải qua một giai đoạn siêu lạm phát với tỉ lệ lạm phát hai con số từ năm 1975 đến đầu những năm 1990, đặc biệt năm 1986 là 875%. Vàng được sử dụng là vật trung gian trao đổi và là một đơn vị đo lường. Từ cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990, bất động sản, xe máy, ti vi, gia súc hay thậm chí là nông sản đều được định giá và giao dịch bằng vàng. Tuy nhiên khi  mức lạm phát giảm xuống mức thấp hơn vào đầu những năm 2000, các chức năng làm phương tiện trao đổi và đo lường giá cả của vàng dần giảm đi, đồng thời tình trạng sử dụng và trao đổi vàng Kim Thành cũng giảm xuống.

Hiện nay, vàng miếng SJC dẫn đầu thị trường vàng Việt Nam.

Lịch sử của thị trường vàng từ chính sách đổi mới

Kinh tế Việt Nam bắt đầu phát triển từ sau chính sách đổi mới tháng 12/1986, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
 

phân tích thị trường vàng việt nam
Phân tích thị trường vàng Việt Nam thời kỳ sau chính sách đổi mới
Đầu những năm 1990 chứng kiến làn sóng FDI đầu tiên vào Việt Nam và thúc đẩy GDP lên mức 8-9% vào giữa những năm 1990. Năm 1997, cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á xảy ra, đặc biệt ở Thái Lan và In-đô-nê-xi-a, nhưng tác động tới Việt Nam ít hơn so với các quốc gia châu Á khác do thị trường tài chính Việt Nam chưa mở cửa cho nước ngoài. Thiệt hại của Việt Nam được giới hạn ở sự suy giảm của GDP xuống còn 4% vào năm 1999.

Trong những năm 2000, dòng vốn FDI quay trở lại Việt Nam và đẩy GDP lên mức trên 8% vào năm 2005 và duy trì ở mức này trong vòng 3 năm. Tốc độ trăng trưởng FDI đạt 8,5% và đạt mức trên 20 tỉ đôla Mỹ năm 2007. Những quan điểm đang dần phát triển đã tạo ra một khẩu vị đầu tư mới trong xã hội Việt Nam. Vàng, bất động sản và chứng khoán trở thành các tài sản đầu tư phổ biến.

Liên quan tới các quy định về vàng, chính phủ bãi bỏ toàn bộ cấp phép hành chính về quản lý hoạt động kinh doanh vàng năm 1999 và vào năm sau, ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép các tổ chức tín dụng huy động vốn bằng vàng và bằng VND đảm bảo giá trị theo giá vàng. Bên cạnh đó,  từ năm 2001 hoạt động nhập khẩu vàng cũng bị cấm. Đến năm 2005, Bộ Tài chính đã giảm thuế nhập khẩu vàng thỏi từ 1% xuống còn 0,5%.

Năm 2007, ACB mở sàn giao dịch vàng đầu tiên ở Việt Nam. Tiếp sau đó, nhiều ngân hàng cũng mở các sàn giao dịch tương tự. Điều này không những làm tăng khối lượng nhập khẩu vàng mà còn làm tăng thâm hụt thương mại của nước ta.

Tháng 6/2008, chính phủ ra quyết định ngừng nhập khẩu vàng. Tuy nhiên, chính điều này lại tạo ra một làn sóng tăng giá vàng và khiến lượng vàng nhập khẩu lại tăng lên tương ứng.

Tháng 11/2009, chính phủ tiếp tục cho nhập khẩu vàng, tạo ra sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng nhập khẩu và sự sụt giảm đáng kể của dự trữ ngoại hối.

Tình hình hiện nay

Sau nhiều năm vàng được tự do mua bán, đặc biệt từ năm 2008 đến năm 2010, ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quyết định đưa ra các biện pháp kiểm soát nhằm hạ nhiệt thị trường từ năm 2010. Điều này bao gồm việc đóng cửa gần 20 sàn giao dịch vàng.

Kể từ khi chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng năm 2012 cho phép NHNN có thể can thiệp trực tiếp vào thị trường vàng, thị trường đã trở nên ổn định hơn. Do đó mà NHNN trở thành cơ quan kiểm soát duy nhất của hoạt động kinh doanh vàng trên cả nước. Tuy nhiên, những quy định trên đã buộc nhiều đơn vị kinh doanh vàng nhỏ phải ngừng hoạt động và những quy định này có nghĩa là chỉ những doanh nghiệp có vốn tối thiểu 100 tỉ đồng, thuế đóng hàng năm 500 triệu đồng  và có chi nhánh tại ít nhất 3 tỉnh thành mới được cho phép kinh doanh vàng và nhập khẩu vàng miếng. Do đó, số lượng đơn vị kinh doanh vàng giảm từ hơn 10.000 đơn vị xuống 2.500 đơn vị như hiện nay.
 

phân tích thị trường vàng việt nam
Phân tích thị trường vàng Việt Nam: NHNN có thể can thiệp trực tiếp vào thị trường
Bên cạnh đó, những quy định này cũng khiến một số tổ chức tín dụng và doanh nghiệp sản xuất vàng bạc đá quý phải đóng cửa, bởi trong quy định nêu rõ một tổ chức tín dụng phải có vốn điều lệ tối thiểu 3000 tỉ đồng và phải đăng ký kinh doanh vàng miếng và có cơ sở tại ít nhất 5 tỉnh thành và tập trung hoạt động ở các thành phố. Để được công nhận là một doanh nghiệp sản xuất vàng bạc đá quý, doanh nghiệp cần được thành lập theo luật định, có giấy phép đăng ký kinh doanh sản xuất vàng bạc đá quý và có những trang thiết bị sản xuất cần thiết.

Phân tích thị trường vàng Việt Nam, chúng ta thấy rằng thị trường vàng vẫn nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ và không có nhiều tự do cho hoạt động xuất nhập khẩu vàng. Chính phủ Việt Nam độc quyền sản xuất vàng miếng và đồng thời là cơ quan duy nhất được quyền nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng. Các doanh nghiệp chỉ có thể nhập khẩu nguyên liệu thô để sản xuất vàng trang sức, nhưng cần phải có giấy phép từ NHNN.

Nghị định 24 biến NHNN trở thành đơn vị nhập khẩu vàng duy nhất tạo ra một số vấn đề cho các nhà sản xuất vàng bạc đá quý bởi vì họ không còn vàng nguyên liệu để nhập khẩu. Do đó, NHNN đã cho phép một số doanh nghiệp được nhập khẩu vàng nguyên liệu dưới sự giám sát chặt chẽ, những vẫn chưa có quy định về hạn ngạch nhập khẩu vàng.

Mặc cho những quy định chặt chẽ đối với hoạt động kinh doanh vàng, trên thị trường vẫn không thiếu vàng miếng do buôn lậu từ Trung Quốc, Campuchia vào Lào. Và một sự thực khác là mạng lưới phân phối bán lẻ vàng mới chỉ thay đổi trên bề mặt, chưa đi đến cốt lõi của ngành kinh doanh, cùng với đó là hơn 10.000 của hàng vàng vẫn bán nhẫn vàng ở quầy và ngấm ngầm bán vàng miếng ở dưới quầy.

Tổng hợp bởi VnRebates
Theo Sbma.org
x Bitcoin