GBP/USD

Bức tranh tổng quan

Sự kiện ảnh hưởng GBP/USD

Phân tích nhận định

» Xem tất cả

Kiến thức chung Forex

» Xem tất cả

Tổng quan về GBP/USD

GBP/USD

GBP/USD là gì?

GBP/ USD (hoặc Pound Dollar) thuộc nhóm “các cặp tiền tệ chính” và là 1 trong những cặp tiền tệ lâu đời nhất. Cặp này còn được gọi là “GU”, “Cable”, “Pound”, “Sterling”, “the beast”. “Cable” bắt nguồn từ giữa thế kỷ 19 đề cập đến tuyến cáp xuyên Đại Tây Dương đầu tiên để kết nối Vương quốc Anh với Mỹ. GBP/USD vận hành xung quanh những biến động của 2 nền kinh tế: Anh và Mỹ. Đặc biệt, sau kết quả của cuộc trưng cầu Brexit, GU đã phải trải qua nhiều sóng gió do rủi ro liên quan đến quá trình từ bỏ Liên minh châu Âu.

GBP có một vị trí đặc biệt trong lịch sử của các quỹ đầu cơ và đầu cơ tiền tệ. Năm 1990, Vương quốc Anh tham gia cơ chế Tỷ giá hối đoái chung của hệ thống tiền tệ Châu Âu (ERM), được cho là để giảm bớt sự biến động bên ngoài và trải đường sẵn cho đồng tiền Châu Âu duy nhất. Tuy nhiên, đối với Anh, cơ chế này hóa ra không mang lại lợi nhuận: để kiềm chế suy thoái kinh tế, BOE đã phải bơm những khoản tiền khổng lồ vào nền kinh tế của đất nước.

Lịch sử thị trường ngoại hối đã có 1 ngày Thứ 4 đen tối (Black Wednesday), chứng kiến đồng bảng đã giảm đến 25% so với đồng USD chỉ trong 1 ngày. Dù tuyên bố bắt đầu thả nổi đồng tiền của mình từ những năm 1970, nhiều chính phủ lớn vẫn can thiệp không thường xuyên vào thị trường ngoại hối để làm mạnh hoặc suy yếu đồng tiền của mình, tùy thuộc vào mục đích của mình. BoE đã can thiệp rất nhiều vào đầu những năm 1990 dù cam kết duy trì giá trị đồng Bảng với đồng Deutschmark của Đức theo ERM. Thời điểm này, nền kinh tế Anh đang bước vào suy thoái. Tuy nhiên, để giá trị của bảng Anh khi neo với Deutschmark, BoE cần phải mua vào đồng bảng và tăng lãi suất. Nhưng tăng lãi suất liệu có phù hợp với bối cảnh suy thoái kinh tế?!

Một số lượng lớn các nhà đầu cơ, đáng chú ý nhất là George Soros, đã nhận ra vị thế lung lay của BoE và bắt đầu bán khống đồng bảng Anh. Vào Black Wednesday, ngày 16 tháng 9 năm 1992, Anh rời ERM và từ bỏ ý định tiếp tục neo giá Bảng Anh theo đồng Đức. Điều này đã tàn phá giá trị của Bảng, với mức giảm ấn tượng nhất trong lịch sử bảng Anh, 25% 1 ngày so với đồng USD. Và Soros cũng được mệnh danh là người đánh bại Ngân hàng Anh từ đó.”

 

Nên trade GBP/USD phiên nào?

Khối lượng giao dịch GBP/USD cao nhất trong phiên châu Âu, có khả năng tăng trưởng mạnh trong phiên New York vào 19h-23h giờ Việt Nam khi dữ liệu chính của Vương quốc Anh và Hoa Kỳ được công bố.

Để biết cụ thể các phiên giao dịch theo giờ Việt Nam, bạn vào link này và chỉnh múi giờ “GMT + 07:00 Asia/Saigon – ICT” để biết chính xác phiên giao dịch nào nhé.

 

Những sự kiện thường tác động đến GBP

“Khi trade các cặp tiền có chứa đồng GBP, trader thường sẽ lưu ý đến những sự kiện sau: thay đổi trong chính sách tiền tệ: lãi suất, lãi suất repo, nới lỏng định lượng, mối quan hệ giữa EU với Mỹ, sự phát triển kinh tế và thương mại của EU – đối tác thương mại của Anh, khẩu vị rủi ro của trader, lộ trình và những điều khoản của Brexit, các thông tin liên quan đến GDP, chỉ số quản lý thu mua PMI,…Trong số đó, có 1 số những điểm sẽ tác động mạnh đến GBP gồm:

– Những thay đổi trong chính sách tiền tệ: Những thay đổi trong lãi suất trong chính sách tiền tệ của BoE có thể làm thay đổi tâm lý đối với đồng bảng Anh vì ảnh hưởng đến lợi suất của trái phiếu Anh. Ngoài ra, những thay đổi trong lãi suất repo trong hệ thống ngân hàng cũng tiết lộ triển vọng của BOE về nền kinh tế. Nếu các quan chức BOE cảm thấy nền kinh tế đang bị tổn hại, họ sẽ mở rộng các biện pháp nới lỏng định lượng hoặc cắt giảm lãi suất repo, điều này sẽ báo hiệu rằng nền kinh tế đang bất ổn. Ngược lại, nếu BOE cảm thấy nền kinh tế tăng trưởng nóng có thể dẫn đến áp lực lạm phát, họ có thể cắt giảm nới lỏng định lượng hoặc tăng lãi suất repo.

– Tình hình kinh tế – xã hội của khu vực đồng euro và Mỹ: Do mối tương quan mạnh giữa GBP và EUR, GBP/USD cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi tình hình kinh tế trong khu vực đồng euro. Khu vực đồng euro chiếm phần lớn các quan hệ thương mại của Vương quốc Anh. Do đó, bạn cũng nên quan sát bất kỳ sự kiện nào của khu vực đồng tiền chung Châu Âu. Bất kỳ tin tức xấu nào hoặc hoạt động kinh tế kém đều có thể dẫn đến tâm lý giảm giá đối với đồng GBP. Ngoài ra, dữ liệu kinh tế của Mỹ cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý của các nhà đầu tư và trader trên thị trường. Dữ liệu tốt hay xấu từ Mỹ có thể khiến những những bên tham gia thị trường mua/bán GBP do ham muốn rủi ro gia tăng (mua GBP) hoặc tìm kiếm sự an toàn từ USD.

– Tâm lý rủi ro: Dù nhỏ, nhưng thực tế GBP có lãi suất cao hơn so với các loại tiền tệ chính khác. Khi các nhà giao dịch thực hiện carry trade, bảng Anh cũng là 1 trong những tài sản được xem xét nhiều nhất trong nhóm các đồng tiền chính vì tiềm năng thu được lợi nhuận cao hơn từ các khoản đầu tư của mình . Khi thị trường biến động, carry trader thường sẽ rút vốn ra khỏi các khoản đầu tư có lợi suất cao (gồm GBP) và đổ tiền vào đồng tiền an toàn hơn (ví dụ như đồng USD).”

Những sự kiện thường tác động đến USD

Như bất cứ tiền tệ nào, những chỉ báo căn bản của 1 nền kinh tế, như tốc độ tăng trưởng GDP, lãi suất công bố của FED, lượng tiền lưu thông, tỷ lệ thất nghiệp, hiệp định thương mại, thuế quan, sự kiện quốc tế, cán cân thanh toán, tổng dư nợ quốc gia và thâm hụt ngân sách hàng năm của Mỹ, bầu cử và các sự kiện của Nhà Trắng, dữ liệu kinh doanh Nhà ở,…. đều ảnh hưởng đến USD.

Ngoài ra, khi giao dịch các cặp tiền có chứa USD, chúng ta cũng nên nắm bắt những yếu tố khác khiến giá trị đồng USD thay đổi:

– Vàng và giá vàng: Bất cứ khi nào đồng đô la có nguy cơ mất giá do lạm phát, các nhà đầu tư sẽ chuyển sang vàng. Không giống như hầu hết các tài sản tài khác, vàng duy trì giá trị nội tại khi thế giới trải qua những biến động và khủng hoảng. Khi giá vàng tăng, đó có thể là một dấu hiệu cho thấy đồng đô la đang mất dần sức hấp dẫn.

– Phát triển kinh tế ở Hoa Kỳ: Về cơ bản, những tín hiệu cho thấy mức tăng trưởng tích cực của nền kinh tế Hoa Kỳ sẽ thu hút nhiều người tham gia đầu tư vào quốc gia này hơn. Khi đó, nhà đầu tư sẽ cần phải có đô la để có thể giao dịch ở Hoa Kỳ. Vì vậy, khi nhu cầu đầu tư vào Hoa Kỳ tăng lên, nhu cầu đối với đồng bạc xanh cũng tăng theo.

– Dòng vốn đầu tư: So với Nhật Bản và Luân Đôn, Hoa Kỳ có lẽ có thị trường tài chính tiên tiến và đầy đủ nhất, cung cấp tất cả các công cụ và hình thức đầu tư tài chính cho bất kỳ ai có tiền nhàn rỗi. Để đầu tư vào các tài sản Mỹ này, trước tiên các nhà đầu tư cần phải chuyển đổi bất kỳ loại tiền tệ nào họ đang nắm giữ sang đô la Mỹ. Do đó, dòng vốn vào và ra từ thị trường tài chính Mỹ cũng có thể có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị của đồng đô la.

– Tình trạng nền kinh tế trên toàn thế giới: Vì USD chiếm phần lớn các giao dịch tiền tệ hàng ngày, nên bất kỳ tin tức nổi bật nào trên thế giới (như là tăng trưởng GDP mạnh ở Úc, sự cố thị trường chứng khoán ở Bắc Kinh hoặc cuộc tấn công của hacker ở Tokyo) đều có thể tác động đến tỷ giá ngắn hạn của đồng USD.
– Chênh lệch lợi tức trái phiếu: Trader hay theo dõi chênh lệch lợi suất trái phiếu của Hoa Kỳ và các quốc gia khác như là 1 tín hiệu dự báo khi giao dịch. Nếu trader nhận thấy rằng lợi suất trái phiếu đang tăng ở nước ngoài trong khi lợi suất ở Hoa Kỳ vẫn ổn định hoặc giảm xuống, họ sẽ bán bớt trái phiếu Hoa Kỳ (tương đương bán đô la trong quá trình này) và bắt đầu mua trái phiếu nước ngoài. Điều này sau đó sẽ làm tăng cung USD, do đó, có thể khiến đồng USD giảm giá.

– Các tin đồn về lãi suất: Những người tham gia thị trường ngoại hối luôn chú ý đến xu hướng lãi suất. Nếu FED dự kiến ​​sẽ tăng lãi suất, điều này có nghĩa là nhu cầu đối với tài sản tài chính bằng đồng đô la (như trái phiếu Kho bạc) có thể tăng lên, gây tăng giá cho đồng đô la. Ngược lại, nếu Fed dự kiến ​​cắt giảm lãi suất, có thể làm giảm nhu cầu đối với các tài sản bằng USD này và chúng ta có thể thấy các nhà đầu tư chuyển tiền của mình khỏi đồng đô la. Vì các quan chức Fed thường đưa ra những gợi ý về các động thái lãi suất trong tương lai của FED, hầu hết trader đều chú ý đến các bài phát biểu của các quan chức có liên quan đến cơ quan này.

Ngoài ra, những điểm khác cũng cần lưu ý về đồng đô la Mỹ:

-USD là “ông vua” thanh khoản với số lượng khổng lồ các giao dịch tiền tệ mỗi ngày liên quan đến đồng tiền này. Các hàng hóa như vàng và dầu thô cũng được tính bằng đô la. Chỉ riêng trong phiên giao dịch châu Á, đồng đô la chiếm khoảng 93% tất cả các giao dịch tiền tệ! Để giải thích về tính thanh khoản cao nhất của đồng USD, chúng ta có thể xem xét đến quy mô của Sở giao dịch chứng khoán New York và thị trường trái phiếu Hoa Kỳ. Giá trị của các công ty được niêm yết trên NYSE lên tới 28,5 nghìn tỷ đô la, khoảng 78% quy mô của thị trường chứng khoán thế giới có vốn hóa 36,6 nghìn tỷ đô la. Tương tự, trong tổng giá trị 82,2 nghìn tỷ USD của thị trường trái phiếu toàn cầu, Hoa Kỳ chiếm 31,2 nghìn tỷ USD. Và tất cả mọi giao dịch gần như đều liên quan đến USD.
– Fed và Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã giữ chính sách “đồng đô la mạnh” trong vài thập kỷ qua. Họ tin rằng chính sách tiền tệ và tài khóa nên hướng tới tỷ giá hối đoái của đồng USD mạh, vì nó sẽ có lợi cho cả Hoa Kỳ và phần còn lại của thế giới.
– Tiền tệ của nhiều quốc gia mới nổi đều dựa vào USD để xác định giá trị của mình. 1 điều rất phổ biến khi đề cập đến đồng USD đó là, USD là đồng tiền dự trữ của thế giới. Lý do đằng sau điều này là có nhiều quốc gia thực sự neo tỷ giá tiền tệ của mình so với đồng đô la! Khi chính phủ có thể tăng và giảm nội tệ của mình thì họ cũng cần phải dự trữ một lượng đô la tương đương. Quá trình này phóng đại tầm quan trọng của đồng đô la trên toàn thế giới, bởi vì điều này có nghĩa là một số nền kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào đồng đô la! Nếu giá trị của đồng đô la rơi vào giai đoạn giảm mạnh thì điều này sẽ tạo ra một hiệu ứng tiêu cực trên diện rộng ở tất cả các quốc gia khác cố định tiền tệ của mình theo đồng đô la.

Vương quốc Anh là một trong những nền kinh tế hàng đầu thế giới và có lịch sử lâu đời. Bất chấp cuộc khủng hoảng chính trị do việc rút khỏi EU gây ra, các ngân hàng quốc gia trên thế giới vẫn tiếp tục sử dụng rộng rãi đồng bảng Anh trong quỹ dự trữ ngoại hối cả mình.
Trong khi đó, London vẫn là trung tâm tài chính lớn thứ hai trên thế giới sau New York, vẫn là nơi thiết lập mức giá của 1 số mặt hàng trên thế giới. Ví dụ, kể từ năm 1919, các hợp đồng cung cấp vàng vật chất được thực hiện theo giá thiết lập từ Phiên đấu giá liên ngân hàng London (Gold Fixing), sau đó, được thay thế bằng phiên đấu giá điện tử Giá vàng LBMA từ 20/03/2015. Thị trường tiền tệ và tín dụng Châu Âu cũng sử dụng tỷ giá Libor được thiết lập ở London.

GBP tự tin giữ vị trí thứ ba về thanh khoản sau USD và EUR. Trên thị trường Forex, các hoạt động liên quan đến GBP/USD chiếm tới 17% tổng khối lượng giao dịch. Biệt danh khác “The beast” của GBP/USD đến từ mức độ biến động mạnh và rất nhanh của cặp này so với các cặp tiền chính khác, vì GU rất nhạy với các báo cáo kinh tế của Anh, đặc biệt khi các dữ liệu không khớp với kỳ vọng và chính sách tiền tệ.
Trong khi biến động của EUR/USD có thể lên tới 25 pips 1 ngày thì GBP/USD có thể di chuyển 160 pips 1 ngày là chuyện bình thường. Nhìn chung, các cặp GBP rất dễ bị biến động vì mức độ thanh khoản của chúng thấp hơn so với EUR. Với thanh khoản ngày càng mỏng tại một số thời điểm nhất định trên thị trường, GBP có thể bị ảnh hưởng theo một hướng, đặc biệt nếu có các lệnh mua hoặc bán lớn theo hướng đó.
So với các cặp tiền tệ khác, các cặp GBP có xu hướng phản ứng mạnh mẽ hơn trước các công bố dữ liệu kinh tế bất ngờ.

GBP/USD - Cơ quan & Cá nhân có ảnh hưởng nhất

Những thông tin, hoặc phát biểu từ 2 tổ chức dưới đây sẽ ngay lập tức phản ứng mạnh vào cặp GBP/USD. Những cuộc họp công bố lãi suất, điều chỉnh chính sách tiền tệ, cung ứng tiền, quan điểm về chính trị…. đều có thể tác động đến cặp tiền này.

The Bank of England (BoE)

The Bank of England là ngân hàng trung ương của Vương quốc Anh, được xem là 1 trong những ngân hàng lâu đời nhất trên thế giới. Được thành lập vào năm 1694 và thuộc sở hữu tư nhân trong thời gian đầu, Ngân hàng được quốc hữu hóa vào năm 1946 nên hiện nay hoàn toàn thuộc sở hữu của chính phủ Vương quốc Anh.

Vai trò chính của BOE là duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính của quốc gia. Ngoài ra, còn có 1 số nhiệm vụ khác là sản xuất tiền giấy an toàn, vận hành việc mua sắm tài sản và giữ cho lạm phát ở mức thấp và ổn định.

BoE được giám sát bởi Tòa án Anh và chịu trách nhiệm trước Quốc hội Anh và công chúng.

Cục dự trữ liên bang Mỹ FED

Cục Dự trữ Liên bang gần như là 1 trong số ít các ngân hàng trung ương trên thế giới không chịu bất cứ kiểm soát hay quyết định nào từ chính phủ hay tổng thống Mỹ, đóng 1 vai trò độc lập, dù vẫn chịu trách nhiệm bởi cơ quan Hành Pháp Hoa Kỳ. Do đó, các phán quyết đưa ra sẽ không phục vụ lợi ích cho 1 phe phái nào hết mà chỉ phục vụ cho người dân và các lợi ích công cộng. Ngoài ra, để tránh tập trung quá nhiều quyền lực vào ngân hàng tại New York, cũng như tăng quyền lực cho các vùng nội địa, 1 hệ thống ngân hàng mới ra đời sẽ nằm ở 12 vùng trên khắp nước Mỹ.
Cơ cấu tổ chức của FED bao gồm:
– Hội đồng Thống đốc gồm 7 thành viên, nhiệm kỳ 14 năm, do Tổng thống Mỹ chỉ định.
– Ủy ban Thị trường mở (FOMC). FOMC tổ chức 8 cuộc họp/ năm, xem xét các điều kiện kinh tế và tài chính, đồng thời xác định lập trường thích hợp của chính sách tiền tệ và đánh giá rủi ro đối với các mục tiêu dài hạn là ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế bền vững.
– Các ngân hàng của FED (12 ngân hàng) được đặt tại các thành phố lớn
– Các ngân hàng thành viên
Fed được lập ra để kiểm soát 2 mục tiêu kép: giữ tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất có thể và lạm phát quanh mức 2%.
Jerome Powell hiện tại là Chủ tịch Hội đồng Thống đốc FED

Andrew Bailey

Andrew Bailey (sinh năm 1959) đảm nhiệm vai trò Thống đốc Ngân hàng Anh kể từ ngày 16 tháng 3 năm 2020.Trước khi trở thành Thống đốc BoE, Andrew đã đảm nhận vai trò lãnh đạo nhiều lĩnh vực tại Ngân hàng, và là người đứng đầu của cơ quan quản lý tài chính vương quốc Anh (Financial Conduct Authority (FCA))

Thống đốc Ngân hàng Anh là chức vụ cao cấp nhất của BoE. Trên danh nghĩa, đây là một chức vụ dân sự, nhưng việc bổ nhiệm có xu hướng từ bên trong ngân hàng, với việc người đương nhiệm chuẩn bị cho người kế nhiệm của mình. Thống đốc Ngân hàng Anh cũng là Chủ tịch Ủy ban Chính sách Tiền tệ, với vai trò chính trong việc hướng dẫn chính sách kinh tế và tiền tệ quốc gia, và do đó là một trong những quan chức công quan trọng nhất ở Vương quốc Anh.

Jerome Powell

Jerome Powell sinh năm 1953, từng tốt nghiệp ngành chính trị tại Đại học Princeton năm 1975 và nhận bằng luật tại Đại học Georgetown. Ông Powell nhậm chức Chủ tịch Hội đồng Thống đốc FED từ 5/2/2018.
Trong khi các Chủ tịch FED có xu hướng là các nhà kinh tế học, Jerome Powell lại quan tâm tới nền tảng thị trường nhiều hơn, đặc biệt là trong các thương vụ đầu tư mạo hiểm. Ông có kiến thức sâu rộng về tài chính và chính sách công, từng có nhiều năm làm việc với vị trí lãnh đạo ngân hàng đầu tư và là nhà đầu tư tư nhân.
Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc cho 1 công ty luật và sau đó là 1 ngân hàng đầu tư ở New York. Sự nghiệp chính trị của Powell bắt đầu từ năm 1990, khi ông vào làm việc ở Bộ Tài chính Mỹ. Năm 1992, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng chuyên giám sát các ngân hàng lớn ở phố Wall.

Những cặp tiền có tương quan mạnh với GBP/USD

EUR/USD

EUR/USD và GBP/USD có tương quan cùng chiều rõ ràng nhất, với sự tăng hoặc giảm ở cặp này thường có mức tăng giảm gần bằng nhau ở cặp kia. Mức tương quan này xuất phát từ mối quan hệ kinh tế – chính trị chặt chẽ giữa Mỹ – liên minh châu Âu và Anh quốc, và mối quan hệ song sinh của EUR và GBP.

Xét về cách niêm yết, bởi vì cả 2 cặp đều có USD là đồng định giá. Vì vậy, khi USD trở nên yếu, cả hai đều tăng, ngược lại, khi USD trở nên mạnh, chúng cùng giảm.

Tuy nhiên, mối quan hệ “song sinh” của EUR và GBP có thể sẽ không còn đúng nữa hậu Brexit, vì Brexit sẽ thay đổi hành vi kinh tế của cả 2 nền kinh tế lớn này, do đó sẽ thay đổi nguồn vốn nước ngoài vào nước Anh. Ngoài ra, điều kiện làm việc và tiền lương của người lao động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát, đây là một mối quan tâm đáng kể đối với bất kỳ ngân hàng trung ương nào.

Nếu Anh xóa bỏ những ràng buộc với EU và tự do ký kết các thỏa thuận với các quốc gia khác, mối tương quan tích cực giữa EU và GU có thể sẽ không còn đúng nữa.