hotforex
Mở TK và nhận thêm 3 USD/lot
fxpro
Mở TK và nhận thêm 8 USD/lot
exness
Mở TK và nhận thêm 5usd/lot
xm-broker
Mở TK và nhận thêm 5 USD/lot
fbs-broker
Mở TK và nhận thêm 5-10 USD/lot
ic-markets
Mở TK và nhận thêm 1 USD/lot

USD/CAD

Bức tranh tổng quan

Sự kiện ảnh hưởng USD/CAD

Phân tích nhận định

» Xem tất cả

Kiến thức chung Forex

» Xem tất cả

Tổng quan về USD/CAD

USD/CAD

USD/CAD là gì?

Đồng đô la Canada từng được neo tỷ giá cố định với USD, nhưng kể từ năm 1970, CAD đã trở thành đồng tiền thả nổi tự do do Ngân hàng BoC kiểm soát.

USDCAD là 1 trong 3 cặp tiền tệ hàng hóa (commodity currency), cùng với AUD/USD, NZD/USD, vì có mối tương quan cao với biến động hàng hóa (đặc biệt là dầu). USD/CAD, với biệt danh là Loonie, cho biết cần bao nhiêu đô la Canada (đồng tiền định giá) để mua một đô la Mỹ (đồng tiền cơ sở). Cái tên “Loonie” xuất phát từ tên gọi của đồng xu (coin) màu vàng được phát hành vào năm 1987 bởi Xưởng đúc tiền Hoàng gia Canada tại Winnipeg, với 1 mặt là hình con chim lặn mỏ đen (chim loons) phổ biến trên khắp Canada, ở mặt sau và mặt còn lại là hình Nữ hoàng Elizabeth II, nguyên thủ quốc gia này.

 

Nên trade USD/CAD phiên nào?

Thị trường forex hoạt động 24/5, do đó, bạn hầu như có thể giao dịch cặp USDCAD bất cứ thời điểm nào từ thứ 2 đến hết thứ 6. Tuy nhiên, có những thời điểm trong ngày, thị trường sẽ sôi động hơn hẳn. Nắm bắt điều này chắc chắn sẽ giúp trader, đặc biệt là scalper hay day trader, cải thiện được hiệu suất lợi nhuận của mình.

Đối với giao dịch trong ngày, cặp tiền này vận đồng khá logic do sự tương đồng về múi giờ của Canada và Mỹ. Theo thống kê, USDCAD đạt mức biến động cao nhất là 22-25 pips trong khoảng thời gian từ 20:00 tối đến 04:00 sáng giờ Việt Nam – phiên giao dịch của Hoa Kỳ, khi hầu hết các chỉ số kinh tế chính của Hoa Kỳ và Canada đều phát hành.

Để biết cụ thể các phiên giao dịch theo giờ Việt Nam, bạn vào link này và chỉnh múi giờ “GMT + 07:00 Asia/Saigon – ICT” để biết chính xác phiên giao dịch nào nhé.

Những sự kiện thường tác động đến USD

Như bất cứ tiền tệ nào, những chỉ báo căn bản của 1 nền kinh tế, như tốc độ tăng trưởng GDP, lãi suất công bố của FED, lượng tiền lưu thông, tỷ lệ thất nghiệp, hiệp định thương mại, thuế quan, sự kiện quốc tế, cán cân thanh toán, tổng dư nợ quốc gia và thâm hụt ngân sách hàng năm của Mỹ, bầu cử và các sự kiện của Nhà Trắng, dữ liệu kinh doanh Nhà ở,…. đều ảnh hưởng đến USD.

Ngoài ra, khi giao dịch các cặp tiền có chứa USD, chúng ta cũng nên nắm bắt những yếu tố khác khiến giá trị đồng USD thay đổi:

– Vàng và giá vàng: Bất cứ khi nào đồng đô la có nguy cơ mất giá do lạm phát, các nhà đầu tư sẽ chuyển sang vàng. Không giống như hầu hết các tài sản tài khác, vàng duy trì giá trị nội tại khi thế giới trải qua những biến động và khủng hoảng. Khi giá vàng tăng, đó có thể là một dấu hiệu cho thấy đồng đô la đang mất dần sức hấp dẫn.

– Phát triển kinh tế ở Hoa Kỳ: Về cơ bản, những tín hiệu cho thấy mức tăng trưởng tích cực của nền kinh tế Hoa Kỳ sẽ thu hút nhiều người tham gia đầu tư vào quốc gia này hơn. Khi đó, nhà đầu tư sẽ cần phải có đô la để có thể giao dịch ở Hoa Kỳ. Vì vậy, khi nhu cầu đầu tư vào Hoa Kỳ tăng lên, nhu cầu đối với đồng bạc xanh cũng tăng theo.

– Dòng vốn đầu tư: So với Nhật Bản và Luân Đôn, Hoa Kỳ có lẽ có thị trường tài chính tiên tiến và đầy đủ nhất, cung cấp tất cả các công cụ và hình thức đầu tư tài chính cho bất kỳ ai có tiền nhàn rỗi. Để đầu tư vào các tài sản Mỹ này, trước tiên các nhà đầu tư cần phải chuyển đổi bất kỳ loại tiền tệ nào họ đang nắm giữ sang đô la Mỹ. Do đó, dòng vốn vào và ra từ thị trường tài chính Mỹ cũng có thể có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị của đồng đô la.

– Tình trạng nền kinh tế trên toàn thế giới: Vì USD chiếm phần lớn các giao dịch tiền tệ hàng ngày, nên bất kỳ tin tức nổi bật nào trên thế giới (như là tăng trưởng GDP mạnh ở Úc, sự cố thị trường chứng khoán ở Bắc Kinh hoặc cuộc tấn công của hacker ở Tokyo) đều có thể tác động đến tỷ giá ngắn hạn của đồng USD.
– Chênh lệch lợi tức trái phiếu: Trader hay theo dõi chênh lệch lợi suất trái phiếu của Hoa Kỳ và các quốc gia khác như là 1 tín hiệu dự báo khi giao dịch. Nếu trader nhận thấy rằng lợi suất trái phiếu đang tăng ở nước ngoài trong khi lợi suất ở Hoa Kỳ vẫn ổn định hoặc giảm xuống, họ sẽ bán bớt trái phiếu Hoa Kỳ (tương đương bán đô la trong quá trình này) và bắt đầu mua trái phiếu nước ngoài. Điều này sau đó sẽ làm tăng cung USD, do đó, có thể khiến đồng USD giảm giá.

– Các tin đồn về lãi suất: Những người tham gia thị trường ngoại hối luôn chú ý đến xu hướng lãi suất. Nếu FED dự kiến ​​sẽ tăng lãi suất, điều này có nghĩa là nhu cầu đối với tài sản tài chính bằng đồng đô la (như trái phiếu Kho bạc) có thể tăng lên, gây tăng giá cho đồng đô la. Ngược lại, nếu Fed dự kiến ​​cắt giảm lãi suất, có thể làm giảm nhu cầu đối với các tài sản bằng USD này và chúng ta có thể thấy các nhà đầu tư chuyển tiền của mình khỏi đồng đô la. Vì các quan chức Fed thường đưa ra những gợi ý về các động thái lãi suất trong tương lai của FED, hầu hết trader đều chú ý đến các bài phát biểu của các quan chức có liên quan đến cơ quan này.

Ngoài ra, những điểm khác cũng cần lưu ý về đồng đô la Mỹ:

-USD là “ông vua” thanh khoản với số lượng khổng lồ các giao dịch tiền tệ mỗi ngày liên quan đến đồng tiền này. Các hàng hóa như vàng và dầu thô cũng được tính bằng đô la. Chỉ riêng trong phiên giao dịch châu Á, đồng đô la chiếm khoảng 93% tất cả các giao dịch tiền tệ! Để giải thích về tính thanh khoản cao nhất của đồng USD, chúng ta có thể xem xét đến quy mô của Sở giao dịch chứng khoán New York và thị trường trái phiếu Hoa Kỳ. Giá trị của các công ty được niêm yết trên NYSE lên tới 28,5 nghìn tỷ đô la, khoảng 78% quy mô của thị trường chứng khoán thế giới có vốn hóa 36,6 nghìn tỷ đô la. Tương tự, trong tổng giá trị 82,2 nghìn tỷ USD của thị trường trái phiếu toàn cầu, Hoa Kỳ chiếm 31,2 nghìn tỷ USD. Và tất cả mọi giao dịch gần như đều liên quan đến USD.
– Fed và Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã giữ chính sách “đồng đô la mạnh” trong vài thập kỷ qua. Họ tin rằng chính sách tiền tệ và tài khóa nên hướng tới tỷ giá hối đoái của đồng USD mạh, vì nó sẽ có lợi cho cả Hoa Kỳ và phần còn lại của thế giới.
– Tiền tệ của nhiều quốc gia mới nổi đều dựa vào USD để xác định giá trị của mình. 1 điều rất phổ biến khi đề cập đến đồng USD đó là, USD là đồng tiền dự trữ của thế giới. Lý do đằng sau điều này là có nhiều quốc gia thực sự neo tỷ giá tiền tệ của mình so với đồng đô la! Khi chính phủ có thể tăng và giảm nội tệ của mình thì họ cũng cần phải dự trữ một lượng đô la tương đương. Quá trình này phóng đại tầm quan trọng của đồng đô la trên toàn thế giới, bởi vì điều này có nghĩa là một số nền kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào đồng đô la! Nếu giá trị của đồng đô la rơi vào giai đoạn giảm mạnh thì điều này sẽ tạo ra một hiệu ứng tiêu cực trên diện rộng ở tất cả các quốc gia khác cố định tiền tệ của mình theo đồng đô la.

Những sự kiện thường tác động đến CAD

Bên cạnh các yếu tố chính của 1 nền kinh tế như GDP, lãi suất, lạm phát…, với 1 commodity currency như CAD, có những yếu tố khác cũng cần theo dõi:

– Dữ liệu kinh tế Mỹ: Vì là đối tác chiếm hơn 70% hoạt động thương mại của Canada, nên dữ liệu kinh tế của Mỹ tác động trực tiếp đến đồng CAD. Vì sự tương đồng múi giờ, nên dữ liệu kinh tế của Mỹ và Canada thường gần như được công bố cùng lúc. Thông thường, dữ liệu tiêu cực từ Mỹ cùng với dữ liệu tích cực từ Canada có thể dẫn đến giá trị của USD / CAD giảm mạnh. Ngược lại, dữ liệu tích cực của Mỹ và dữ liệu không tốt từ Canada có thể khiến USD / CAD tăng vọt!

– Hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A) lớn: Do sự gần gũi về kinh tế lẫn địa lý giữa Mỹ và Canada, các hoạt động M&A công ty diễn ra khá thường xuyên, đòi hỏi 1 lượng tiền khá lớn chảy vào/ ra giữa hai nước, tạo ra hiệu ứng đáng kể trên thị trường ngoại hối. Ví dụ: để 1 công ty Mỹ mua lại một công ty Canada, trước tiên họ phải đổi đô la Mỹ sang đô la Canada để hoàn tất giao dịch. Lượng này có thể đủ lớn để thị trường ngoại hối vận hành theo.

– Dầu thô và giá dầu thô: Canada có trữ lượng lớn các mỏ dầu nặng khổng lồ (bitumen). Việc sản xuất các sản phẩm dầu mỏ từ các nguyên liệu thô phức tạp như vậy đòi hỏi công nghệ cao, nguồn lao động và năng lượng khổng lồ.

Mỏ dầu thô lớn nhất của Canada được phát hiện vào năm 1778, nhưng hoạt động phát triển tích cực chỉ bắt đầu vào giữa thế kỷ XX. Với sự phát triển các công nghệ tiên tiến, Canada đã tạo ra một ngành công nghiệp độc đáo để khai thác dầu từ bitum tự nhiên.

Hiện tại, khoảng 40% trữ lượng dầu thông thường của Canada đã được sản xuất, nhưng trữ lượng bitumen đã được tìm thấy (lên đến 2500 tỷ thùng) có thể đảm bảo sự ổn định của ngành công nghiệp dầu mỏ của quốc gia này. Các chuyên gia ước tính mức sản xuất dầu của Canada sẽ mang lại lợi nhuận tối thiểu là 25 USD / thùng trong điều kiện thị trường ổn định và bình thường, nhưng mức giá dầu thô 40-45 USD đã từng được coi là rất trọng yếu đối với hoạt động tinh chế dầu của Canada.

Trước cuộc cách mạng dầu đá phiến (shale) của Mỹ, khoảng 70% lượng dầu của Canada được xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Vào thời điểm hiện tại, theo cơ quan chính phủ Canada, Canada là nước sản xuất dầu lớn thứ 4 và nước xuất khẩu dầu lớn thứ 3 thế giới (dữ liệu cuối năm 2019) và 98% dầu mỏ của Canada được xuất sang Mỹ, chủ yếu là các doanh nghiệp công nghiệp hoá chất của Mỹ vốn đặc biệt nhạy cảm với chất lượng nguyên liệu. Năm 2019, Lượng dầu thô xuất khẩu của Canada chiếm 48% tổng lượng dầu thô nhập khẩu và 22% lượng dầu thô của các nhà máy lọc dầu của Mỹ.

USD/CAD được coi là một cặp rất kỹ thuật và giao dịch tốt theo xu hướng. Một yếu tố chính cần xem xét khi giao dịch cặp USD/CAD là vận động của nó gắn chặt với nền kinh tế Hoa Kỳ. Không chỉ là láng giềng, Hoa Kỳ và Canada còn là đối tác thương mại mạnh mẽ. Khi nền kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng mạnh, nền kinh tế Canada thường sẽ hưởng lợi trực tiếp! Vì vậy, bất cứ khi nào bạn quyết định giao dịch CAD, hãy dành một chút thời gian để xem nền kinh tế Mỹ hoặc Dolar Index đang hoạt động như thế nào.

Tỷ giá đồng CAD cao là không có lợi cho nền kinh tế xuất khẩu như Canada, nhưng đó không phải là vấn đề đơn giản để khắc phục. Giá dầu và nguyên liệu thô công nghiệp giảm, cũng như đồng USD mạnh là 3 vấn đề chính đối với đồng đô la Canada. Nhưng nắm bắt được các vấn đề này sẽ có lợi cho Forex trader.

Hầu hết tất cả các chỉ báo kỹ thuật trên đồng đô la Canada đều hoạt động tốt, giá trong hầu hết các tình huống không phải là biến động do đầu cơ. Do đó, trader đều có cơ hội hưởng lợi từ cả phân tích kỹ thuật và cơ bản khi giao dịch cặp USD/CAD.

"USD/CAD - Cơ quan & Cá nhân có ảnh hưởng nhất "

Canada là nền kinh tế dựa vào tài nguyên, là nhà sản xuất vàng lớn thứ 7 và nhà sản xuất dầu thô lớn thứ 4 trên thế giới (theo IMF). Phần lớn tăng trưởng kinh tế của Canada trong thời kỳ đầu sẽ đến từ việc sử dụng và xuất khẩu các nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình. Dù có ngành công nghiệp sản xuất phát triển mạnh mẽ, nhưng nền công nghiệp dịch vụ tiên tiến cũng đang góp công rất lớn vào GDP của Canada.

Nền kinh tế của Canada thực sự phát triển vào tháng 1 năm 1989, khi Hiệp định Thương mại Tự do với Mỹ có hiệu lực, về cơ bản đã xóa bỏ tất cả các loại thuế quan giữa Mỹ và Canada. Trên thực tế, Canada hiện xuất khẩu hơn 70% hàng hóa sang thị trường Mỹ.

Cơ quan ảnh hưởng đến đồng CAD

Ngân hàng Trung Ương Canada (BoC, Bank of Canada) là cơ quan điều hành chính sách tiền tệ, phát hành báo cáo và quyết định về lãi suất của quốc gia. Thống đốc hiện tại của BoC là ông Tiff Macklem.

2 thành phần chính không thể tách rời trong chính sách tiền tệ của Canada đó là: kiểm soát lạm phát và giữ cho tỷ giá hối đoái linh hoạt. Trong đó, mục tiêu chính sách tiền tệ của BoC là bảo toàn giá trị của đồng CAD bằng cách đảm bảo lạm phát ở mức thấp, ổn định và có thể dự đoán được (khoảng 2%).

Không giống như hầu hết các ngân hàng trung ương khác, BOC không có mốc thời gian định sẵn để thực hiện các thay đổi chính sách tiền tệ. Hội đồng họp mỗi ngày làm việc và có thể thay đổi chính sách tiền tệ theo ý muốn của họ bất kỳ lúc nào.

Ngoài ra, Canada là nước sản xuất dầu mỏ và khí đốt tự nhiên nổi tiếng, vì thế vai trò của CAPP (Hiệp hội các nhà sản xuất dầu mỏ của Canada – Canadian Association of Petroleum Producers) rất quan trọng, giúp đảm bảo được quyền lợi của các doanh nghiệp cũng như các lợi ích chung của quốc gia.

Cục dự trữ liên bang Mỹ FED

Cục Dự trữ Liên bang gần như là 1 trong số ít các ngân hàng trung ương trên thế giới không chịu bất cứ kiểm soát hay quyết định nào từ chính phủ hay tổng thống Mỹ, đóng 1 vai trò độc lập, dù vẫn chịu trách nhiệm bởi cơ quan Hành Pháp Hoa Kỳ. Do đó, các phán quyết đưa ra sẽ không phục vụ lợi ích cho 1 phe phái nào hết mà chỉ phục vụ cho người dân và các lợi ích công cộng. Ngoài ra, để tránh tập trung quá nhiều quyền lực vào ngân hàng tại New York, cũng như tăng quyền lực cho các vùng nội địa, 1 hệ thống ngân hàng mới ra đời sẽ nằm ở 12 vùng trên khắp nước Mỹ.
Cơ cấu tổ chức của FED bao gồm:
– Hội đồng Thống đốc gồm 7 thành viên, nhiệm kỳ 14 năm, do Tổng thống Mỹ chỉ định.
– Ủy ban Thị trường mở (FOMC). FOMC tổ chức 8 cuộc họp/ năm, xem xét các điều kiện kinh tế và tài chính, đồng thời xác định lập trường thích hợp của chính sách tiền tệ và đánh giá rủi ro đối với các mục tiêu dài hạn là ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế bền vững.
– Các ngân hàng của FED (12 ngân hàng) được đặt tại các thành phố lớn
– Các ngân hàng thành viên
Fed được lập ra để kiểm soát 2 mục tiêu kép: giữ tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất có thể và lạm phát quanh mức 2%.
Jerome Powell hiện tại là Chủ tịch Hội đồng Thống đốc FED

Tiff Macklem

Tiff Macklem (sinh năm 1961) được bổ nhiệm làm Thống đốc BoC từ ngày 3 tháng 6 năm 2020, với nhiệm kỳ 7 năm.

Ông Macklem vốn được xem là “tài sản” quý giá của BoC khi ông từng sát cánh với cựu Thống đốc Mark Carney tạo nên một bộ đôi nổi tiếng lèo lái thành công xứ sở lá phong đỏ trong cuộc khủng hoảng tài chính giữa thập niên 2000.

Trong thời kỳ Khủng hoảng Tài chính Toàn cầu, ông Macklem là Thứ trưởng Bộ Tài chính, và là đại diện của Canada tại G7, G20 và Ban Ổn định Tài chính. Tháng 7 năm 2010, ông Macklem trở lại Ngân hàng và được bổ nhiệm làm Phó Thống đốc cấp cao.

Jerome Powell

Jerome Powell sinh năm 1953, từng tốt nghiệp ngành chính trị tại Đại học Princeton năm 1975 và nhận bằng luật tại Đại học Georgetown. Ông Powell nhậm chức Chủ tịch Hội đồng Thống đốc FED từ 5/2/2018.
Trong khi các Chủ tịch FED có xu hướng là các nhà kinh tế học, Jerome Powell lại quan tâm tới nền tảng thị trường nhiều hơn, đặc biệt là trong các thương vụ đầu tư mạo hiểm. Ông có kiến thức sâu rộng về tài chính và chính sách công, từng có nhiều năm làm việc với vị trí lãnh đạo ngân hàng đầu tư và là nhà đầu tư tư nhân.
Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc cho 1 công ty luật và sau đó là 1 ngân hàng đầu tư ở New York. Sự nghiệp chính trị của Powell bắt đầu từ năm 1990, khi ông vào làm việc ở Bộ Tài chính Mỹ. Năm 1992, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng chuyên giám sát các ngân hàng lớn ở phố Wall.

TOP