Tiền pháp định là gì? Sự khác biệt giữa tiền pháp định và tiền mã hóa

Tiền pháp định của 1 quốc gia về cơ bản là bất kỳ loại tiền tệ nào mà chính phủ quốc gia đó tuyên bố là hợp pháp. Đô la Mỹ chính là đồng tiền pháp định phổ biến nhất hiện nay. Vậy ưu và nhược điểm của tiền pháp định là gì? Tại sao nhiều người tin rằng tiền mã hóa có thể khắc phục những điểm yếu của tiền pháp định?

Tiền pháp định trong tiếng Anh được gọi là “legal tender”. Trong nhiều trường hợp, tiền pháp định được gọi bằng tiền định danh, hay tiền fiat. Tuy nhiên, legal tender và fiat money không hẳn là một, dưới đây sẽ giải thích sự khác biệt giữa 2 tên gọi này. Đồng thời, phần tiếp theo sẽ giúp bạn hiểu rõ sự khác nhau giữa tiền pháp định và tiền mã hóa.

Fiat Money vs. Legal Tender

Tiền định danhFiat Money là tiền tệ do chính phủ phát hành, không có giá trị nội tại được xác lập bằng tiền theo quy định của chính phủ, mà được gán giá trị nhờ quyền lực của Chính phủ. Giá trị của tiền định danh bắt nguồn từ mối quan hệ giữa cung và cầu và sự ổn định của chính phủ phát hành, thay vì giá trị của một hàng hóa dùng để đảm bảo như trường hợp của tiền tệ hàng hóa. Hầu hết các loại tiền giấy hiện đại là tiền định danh , bao gồm đồng đô la Mỹ, đồng euro và các loại tiền tệ chính khác trên toàn cầu.

Hầu hết các loại tiền tệ đang lưu thông là tiền pháp định

Tiền pháp địnhLegal Tender về cơ bản là bất kỳ loại tiền tệ nào mà chính phủ tuyên bố là hợp pháp. Nhiều chính phủ phát hành một loại tiền tệ fiat, sau đó biến nó thành hợp pháp bằng cách đặt nó làm tiêu chuẩn để trả nợ.

Đồng đô la Mỹ hiện là tiền định danh ở Mỹ và cũng là tiền pháp định – Legal Tender, đồng tiền được chấp nhận cho các khoản nợ tư và công.

Từ phần tiếp theo, tiền pháp định được dùng chung cho tiền định danh.

Tiền pháp định hoạt động như thế nào?

Tiền pháp định có giá trị khi chính phủ duy trì giá trị đó hoặc do hai bên trong giao dịch đồng ý về giá trị của nó.

Các chính phủ sẽ đúc tiền từ một loại hàng hóa vật chất có giá trị, như vàng hoặc bạc, hoặc in tiền giấy có thể được đổi lấy một lượng hàng hóa vật chất.

Bởi vì không được liên kết với dự trữ vật chất, chẳng hạn như dự trữ vàng hoặc bạc quốc gia, tiền pháp định có nguy cơ mất giá trị do lạm phát hoặc thậm chí trở nên vô giá trị trong trường hợp siêu lạm phát. Nếu mọi người mất niềm tin vào tiền tệ của một quốc gia, tiền sẽ không còn giữ được giá trị. Điều đó khác với tiền tệ được đảm bảo bằng kim loại quý, ví dụ như vàng. Tiền được đảm bảo bằng vàng có giá trị nội tại vì nhu cầu vàng trong trang sức và trang trí cũng như sản xuất các thiết bị điện tử, máy tính và phương tiện hàng không vũ trụ và nguồn cung vàng có giới hạn.

Sức mua của đồng đô la Mỹ từ 1913 – 2019

Ví dụ, Trước đây trong lịch sử Hoa Kỳ, tiền tệ của Mỹ từng được đảm bảo bằng vàng (và trong một số trường hợp là bạc). Sau đó, chính phủ liên bang đã ngừng cho phép công dân đổi tiền lấy vàng của chính phủ với việc thông qua Đạo luật Ngân hàng khẩn cấp năm 1933. Tiền tệ tiêu chuẩn vàng đã chấm dứt hoàn toàn vào năm 1971, khi Hoa Kỳ cũng ngừng phát hành vàng cho chính phủ nước ngoài đổi lấy tiền Mỹ. Kể từ đó, đô la Mỹ được biết là được hỗ trợ bởi “niềm tin và tín dụng đầy đủ” của chính phủ Hoa Kỳ, “là đồng tiền pháp định – Legal tender” cho tất cả các khoản nợ, công và tư nhưng không được “quy đổi thành “legal money” – tiền hợp pháp tại Kho bạc Hoa Kỳ hoặc tại bất kỳ Ngân hàng Dự trữ Liên bang. Theo nghĩa này, đô la Mỹ là “legal tender” – tiền pháp định, chứ không phải là “legal money” – tiền hợp pháp có thể đổi lấy vàng, bạc hoặc bất kỳ hàng hóa nào khác.

Ưu và nhược điểm của tiền pháp định

Tiền pháp định đóng vai trò là loại tiền tệ tốt nếu đảm bảo xử lý các vai trò mà nền kinh tế của một quốc gia cần có trong đơn vị tiền tệ của mình: lưu trữ giá trị, cung cấp một tài khoản bằng số và tạo điều kiện trao đổi.

Tiền pháp định đã chiếm ưu thế trong thế kỷ 20 một phần vì các chính phủ và ngân hàng trung ương đã tìm cách bảo vệ nền kinh tế của họ khỏi những tác động tồi tệ nhất của sự bùng nổ tự nhiên và của chu kỳ kinh doanh. Vì tiền pháp định không phải là nguồn tài nguyên khan hiếm hay cố định như vàng, nên các ngân hàng trung ương kiểm soát nguồn cung của nó nhiều hơn, điều này cho phép họ quản lý các biến số kinh tế như cung cấp tín dụng, thanh khoản, lãi suất và vận tốc tiền. Chẳng hạn, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ có nhiệm vụ kép là giữ tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát ở mức thấp.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng thế chấp năm 2007 và cuộc khủng hoảng tài chính tiếp theo đã làm giảm niềm tin rằng các ngân hàng trung ương khi cần thiết có thể ngăn chặn sự suy thoái hoặc suy thoái nghiêm trọng bằng cách điều tiết lượng cung tiền. Vì tiền pháp định có nguồn cung không giới hạn, nên có khả năng cao sẽ tạo ra lạm phát hơn các loại tiền tệ đảm bảo bằng tài sản có giá trị khác. Một loại tiền tệ gắn liền với tài sản có giá trị, như vàng thường ổn định hơn tiền pháp định vì nguồn cung vàng hạn chế.

Quốc gia châu Phi – Zimbabwe đã đưa ra một ví dụ về trường hợp xấu nhất về tiền fiat vào đầu những năm 2000. Để đối phó với các vấn đề kinh tế nghiêm trọng, ngân hàng trung ương Zimbabwe bắt đầu in tiền với tốc độ đáng kinh ngạc. Điều đó dẫn đến siêu lạm phát, từ 230 đến 500 tỷ phần trăm trong năm 2008. Giá tăng nhanh và người tiêu dùng buộc phải mang theo hàng túi tiền chỉ để mua các mặt hàng chủ lực cơ bản. Ở đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng, 1 nghìn tỷ đô la Zimbabwe trị giá khoảng 40 xu đô la Mỹ.

Tiền mã hóa là gì?

Tiền mã hóa  là một dạng tiền kỹ thuật số hoặc tiền ảo có thể hoạt động như một phương tiện trao đổi. Về bản chất là, tiền mã hóa là ảo, sử dụng công nghệ mã hóa để xử lý, bảo mật và xác minh các giao dịch.

Tiền mã hóa ban đầu được tạo ra như một ý tưởng phụ của Satoshi Nakamoto, người hoặc 1 nhóm người sáng lập đằng sau đồng Bitcoin. Nakamoto ban đầu không có ý định phát triển một loại tiền tệ, mà là muốn tạo ra một hệ thống tiền điện tử ngang hàng để tạo thuận lợi cho các giao dịch mà không có bất kỳ sự giám sát trung tâm nào.

Không giống như tiền pháp định, tiền mã hóa không được kiểm soát bởi bất kỳ cơ quan trung ương nào như ngân hàng trung ương. Thay vào đó, tiền mã hóa giới hạn trong cơ sở dữ liệu như blockchain mà không ai có thể thay đổi hoặc thao túng, trừ khi một số điều kiện được đáp ứng.

Khác biệt chính giữa tiền mã hóa và tiền pháp định là gì?

Sự khác biệt chính và rõ ràng nhất giữa tiền mã hóa và tiền pháp định chính là cơ quan phát hành và quản lý tiền. Tiền pháp định cần có một cơ quan phát hành trung ương – hay còn gọi là ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia, trong khi trong thế giới của tiền mã hóa, không có sự kiểm soát từ bất kỳ cơ quan trung ương nào. Ngoài ra, có những đặc điểm khác phân biệt tiền pháp định với tiền mã hóa như được trình bày dưới đây.

Nguồn cung

Về lý thuyết, tiền pháp định có nguồn cung không giới hạn. Các ngân hàng trung ương có khả năng phát hành bao nhiêu tùy ý và có thể thao túng giá trị của tiền pháp định của quốc gia mình liên quan đến các loại tiền tệ khác.

Tuy nhiên, tiền mã hóa có nguồn cung hạn chế. Nguồn cung của tiền mã hóa được kiểm soát bởi một thuật toán, có nghĩa là có giới hạn đối với nguồn phát hành của các loại tiền tệ điện tử này. Ví dụ, Bitcoin dự kiến ​​sẽ được phát hành tối đa 21 triệu coin.

Điều này làm cho tiền mã hóa trở thành một tài sản thú vị, vì nhu cầu không ngừng tăng lên trong khi vẫn duy trì cùng mức cung. Điều này hy vọng sẽ dẫn đến một tương lai trong đó giá trị của tiền mã hóa sẽ được đánh giá cao khi đối mặt với sự khan hiếm vốn có của nó.

Phân cấp

Tiền mã hóa được phân cấp. Đây chắc chắn là một tính năng khác biệt mạnh mẽ giữa hai loại tiền tệ. Phân cấp cho thấy rằng không có tổ chức hoặc chính phủ nào kiểm soát loại tiền này.

Theo cách này, những người duy nhất duy trì hoạt động của hệ thống là các lập trình viên làm việc trên một mạng máy tính mở nằm rải rác trên khắp thế giới.

Điều này thu hút sự quan tâm của người dùng trên toàn thế giới. Tiền mã hóa nổi bật vì không có sự kiểm soát của các ngân hàng hoặc tổ chức chính phủ như những gì đang xảy ra với tiền fiat.

Tiền mã hóa có một công nghệ mã hóa ngăn chặn tài sản bị sao chép và tái sử dụng. Điều này không giống như tiền pháp định, có thể được sao chép và làm sai lệch dễ dàng hơn.

Bất biến

Giao dịch thực hiện bằng tiền pháp định có thể không thành công. Điều này không giống như các giao dịch tiền mã hóa, không thể dễ dàng đảo ngược.

Điều này xảy ra bởi vì không có sự hiện diện vật lý cũng như cơ quan có trách nhiệm, chẳng hạn như ngân hàng. Khi giao dịch tiền mã hóa diễn ra trong mạng và diễn ra hơn một giờ, trên thực tế bạn không thể thay đổi giao dịch đó.

Điều này có thể tạo ra quan điểm tiêu cực cho một số người dùng tiền mã hóa. Tuy nhiên, điều này thể hiện tính bất biến và khả năng cung cấp bảo mật hơn cho người dùng vì tiền mã hóa đảm bảo rằng không có giao dịch nào có thể bị giả mạo.

Ẩn danh

Giao dịch được thực hiện bằng tiền pháp định là có thể xác định được danh tính. Nếu bạn thực hiện một giao dịch điện tử từ ngân hàng của bạn cho người khác, họ có thể nhanh chóng truy cập vào tên của bạn, biến giao dịch thành không ẩn danh.

Liên quan đến tiền mã hóa, vì không có ngân hàng trung ương, người dùng không nhất thiết phải thể hiện danh tính khi giao dịch tiền tệ của mình. Khi một giao dịch được thực hiện, hệ thống sẽ kiểm tra các giao dịch trước đó để xác nhận rằng người dùng đó tài khoản bằng tiền mã hóa, ví dụ Bitcoin, và không yêu cầu nhận dạng cá nhân của họ.

Quá trình nhận dạng chỉ xảy ra bằng cách xác định địa chỉ của ví; đây sẽ là cách duy nhất để cố gắng nhận ra người dùng. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là một số quốc gia đòi hỏi các sàn giao dịch phải thực hiện kiểm tra nhận dạng đối với khách hàng của họ trước khi cho phép họ giao dịch tiền ảo. Điều này dễ dàng hơn để theo dõi người dùng.

Những đặc điểm này làm cho tiền mã hóa trở nên khó bị lợi dụng bởi bọn tội phạm hoặc những người quan tâm đến việc rửa tiền.

Tổng hợp bởi Vnrebates.net

Theo investopedia.com, finance.yahoo.com, bleutrade.com

Được viết bởi: Đặng Kiều


Giúp chúng tôi đánh giá nội dung của bài viết