Tỷ giá hối đoái – Kiến thức căn bản nhất khi tham gia vào Forex

Ngoài lãi suất và lạm phát, tỷ giá hối đoái là một trong những yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến tình hình kinh tế của một quốc gia. Tỷ giá hối đoái đóng một vai trò quan trọng ở cấp độ thương mại của một quốc gia, điều mà hầu hết các nền kinh tế thị trường tự do trên thế giới đều hết sức quan tâm. Đối với các nhà đầu tư ngoại hối nhỏ lẻ, tỷ giá hối đoái cũng có tầm ảnh hưởng không nhỏ đến lợi suất thực của các khoảng đầu tư và danh mục đầu tư của họ.

 

Ty gia hoi doai la gi

Tỷ giá hối đoái là gì?

Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu một số lực tác động gây nên biến động tỷ giá hối đoái.

1. Tỷ giá hối đoái là gì?

Tỷ giá hối đoái là gì?

Tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ, tỷ giá hối đoái liên ngân hàng, tỷ giá Forex, tỷ giá FX, hoặc đôi khi chỉ ngắn gọn là tỷ giá) giữa 2 đồng tiền, là tỷ giá mà tại đó giá trị một đồng tiền này so sánh với 1 đồng tiền khác.

Ví dụ, tỷ giá của đồng tiền chung khu vực châu Âu Euro (EUR, €) với đô la Mỹ (USD, $) là 1.18 có nghĩa là 1 EUR sẽ được trao đổi lấy 1.18 USD hoặc  1 USD sẽ đổi được 1/1.81 ~  0.85 EUR.

Tỷ giá hối đoái là công cụ quan trọng được chính phủ sử dụng để ổn định nền kinh tế trong nước bằng cách phải điều chỉnh giá đồng nội tệ sao cho hợp lý. Nếu đồng nội tệ lên giá sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn, do đó người dân có xu hướng tiêu dùng hàng nhập khẩu nhiều hơn, làm hạn chế hoạt động xuất khẩu, thu hẹp sản xuất trong nước, mặc dù giảm lạm phát nhưng thất nghiệp lại gia tăng. Nếu đồng nội tệ mất giá, thì lạm phát lên cao.

Tỷ giá hối đoái được niêm yết như thế nào?

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa có 2 cách niêm yết:

  • Yết giá gián tiếp: số ngoại tệ/1 đơn vị nội tệ. Tỷ giá tăng, đồng nội tệ lên giá và ngược lại.
  • Yết giá trực tiếp (thường được dùng hơn yết giá gián tiếp): số nội tệ/1 đơn vị ngoại tệ. Tỷ giá tăng, đồng ngoại tệ tăng giá và ngược lại.

Trong forex, các đồng tiền được giao dịch theo cặp. Đồng tiền thứ nhất được gọi là đồng tiền yết giá hay đồng tiền cơ sở (base currency) và đồng tiền thứ hai được gọi là đồng tiền định giá (quote currency). Ví dụ, báo giá EUR/USD 1.18 có nghĩa là 1 Euro đổi được 1.18 USD. Ở đây, EUR được gọi là “đồng tiền cơ sở” hay ” đồng tiền yết giá” , trong khi USD được gọi là “tiền tệ định giá”.

Có một quy ước thị trường xác định đâu là tiền tệ cơ sở và đâu là tiền tệ điều kiện. Theo thông lệ thị trường, các đồng tiền cơ sở theo thứ tự là: EUR – GBP – AUD – NZD – USD – và những tiền tệ khác. Theo đó, đối với cặp EUR AUD, EUR là tiền tệ cơ sở, và AUD là tiền tệ định giá. Tỷ giá hối đoái cho biết bao nhiêu đô la Úc sẽ phải thanh toán để nhận được 1 Euro. 

Ngoài cách báo giá như trên, tỷ giá hối đoái còn được niêm yết theo tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra, giá cụ thể sẽ thay đổi theo đại lý đổi tiền hoặc brokers, ngân hàng, sàn giao dịch. Mức chênh lệch giữa tỷ giá mua vào và bán ra được gọi là Spread.

  • Tỷ giá mua vào là tỷ giá mà các ngân hàng, sàn giao dịch,… sẽ mua ngoại tệ
  • Tỷ giá bán ra là tỷ giá mà họ sẽ bán ngoại tệ.

Ngoài ra, bạn sẽ còn thấy các tỷ giá niêm yết khác gồm tỷ giá giao ngay (spot rate)tỷ giá kỳ hạn (forward rate):

  • Tỷ giá giao ngay đề cập đến tỷ giá hối đoái hiện hành. 
  • Tỷ giá kỳ hạn đề cập đến một tỷ giá được báo giá và trao đổi hôm nay nhưng cho việc thanh toán và trao đổi tiền tệ vào một ngày trong tương lai cụ thể.

Phân loại cơ chế tỷ giá hối đoái

Mỗi quốc gia, thông qua các cơ chế khác nhau, quản lý giá trị đồng tiền của mình theo 3 cách khác nhau:

  • Tỷ giá hối đoái cố định hay neo theo 1 đồng tiền khác,
  • Tỷ giá hối đoái thả nổi tự do,
  • Tỷ giá hối đoái thả nổi có điều chỉnh, kết hợp cả 2. 

Nếu một cơ chế tỷ giá của 1 đồng tiền được thả nổi tự do, thì tỷ giá hối đoái được phép thay đổi so với các đồng tiền khác và được xác định bởi các lực cung và cầu thị trường và có khả năng thay đổi gần như liên tục khi được báo giá trên các thị trường tài chính (chủ yếu là bởi các ngân hàng) trên toàn thế giới. 

Nếu đồng tiền của 1 quốc gia theo cơ chế tỷ giá cố định, thì tỷ giá hối đoái của đồng tiền quốc gia đó đươc neo hoặc chốt theo 1 đồng tiền của quốc gia khác hoặc theo giá trị của vàng, và thường đi kèm theo một điều khoản cho việc định giá lại của đồng tiền quốc gia đó. Ví dụ, từ năm 1994 đến năm 2005, đồng Nhân dân tệ Trung Quốc (RMB) đã được neo theo đồng USD với tỷ giá 8.2768, nghĩa là  8.2768 Nhân dân tệ đổi được 1 đô-la Mỹ.

Trung Quốc không phải là quốc gia duy nhất làm điều này; từ cuối Chiến tranh Thế giới II cho đến năm 1967, tất cả các nước Tây Âu theo hiệp định Bretton Woods duy trì tỷ giá hối đoái cố định với đồng đô la Mỹ, được tính toán theo giá trị của vàng (Còn gọi là chế độ bản vị Vàng).  Năm 1973, Tổng thống Richard Nixon loại bỏ Hoa Kỳ ra khỏi chế độ bản vị vàng, bắt đầu mở ra kỷ nguyên tỷ giá thả nổi từ đó.

Tuy nhiên, một số chính phủ vẫn cố giữ tiền tệ của họ trong một phạm vi hẹp. Kết quả là, tiền tệ trở thành bị đánh giá quá cao hay bị đánh giá quá thấp, dẫn đến thâm hụt hoặc thặng dư trao đổi quá mức.

Nếu đồng tiền của 1 quốc gia theo cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi có điều chỉnh thì tỷ giá được cố định hoặc neo, hoặc được giữ trong 1 phạm vi hẹp với một loại tiền tệ chính như đô la Mỹ hoặc đồng Euro, nhưng có thể được điều chỉnh lại để phù hợp với các điều kiện thị trường thay đổi hoặc xu hướng kinh tế vĩ mô.

2. Yếu tố nào ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái?

#1. Chênh lệch lạm phát

Theo nguyên tắc chung, khi một đất nước duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức thấp, giá trị của đồng tiền nước này sẽ tăng lên, bởi sức mua trong nước tăng lên tương đối so với các đồng tiền khác. Trong nửa cuối của thế kỷ 20, những nước có lạm phát thấp bao gồm Nhật Bản, Đức và Thụy Sĩ, còn Mỹ và Canada mãi về sau mới đạt được mức lạm phát thấp. Còn đồng tiền của những nước có lạm phát cao hơn thường mất giá so với với đồng tiền của các đối tác thương mại của mình. Hiện tượng này cũng thường đi kèm với lãi suất cao hơn.

#2. Chênh lệch lãi suất

Lãi suất, lạm phát và tỷ giá hối đoái có mối tương quan chặt chẽ. Bằng cách kiểm soát lãi suất, các ngân hàng trung ương sẽ gây ảnh hưởng đến cả lạm phát và tỷ giá hối đoái. Ngoài ra, lãi suất thay đổi sẽ tác động đến lạm phát và giá trị tiền tệ. Một nền kinh tế có lãi suất cho vay cao sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn cho chủ nợ so với các nền kinh tế khác. Do đó, lãi suất cao thu hút vốn đầu tư nước ngoài và làm tỷ giá hối đoái tăng.

Tuy nhiên, tác động của lãi suất cao sẽ trở nên tiêu cực, nếu lạm phát trong nước cao hơn nhiều so với các nước khác, hoặc nếu có thêm những yếu tố khác làm giảm giá trị đồng tiền. Ngược lại, lãi suất giảm có xu hướng làm giảm tỷ giá hối đoái.

#3. Thâm hụt tài khoản vãng lai

Tài khoản vãng lai là cán cân thương mại giữa một quốc gia và các đối tác thương mại của nó, phản ánh tất cả các khoản thanh toán giữa các nước liên quan đến hàng hoá, dịch vụ, lãi và cổ tức. Thâm hụt tài khoản vãng lai cho thấy một quốc gia đang chi tiêu cho ngoại thương nhiều hơn việc thu nhập từ xuất khẩu, và rằng nước này đang vay vốn từ các nguồn nước ngoài để bù đắp thâm hụt.

Nói cách khác, đất nước cần nhiều ngoại tệ hơn những gì nhận được thông qua xuất khẩu, và cung cấp nội tệ cho nước ngoài nhiều hơn những gì họ cần để mua hàng hóa. Nhu cầu ngoại tệ dư thừa làm giảm tỷ giá hối đoái của nước này cho đến khi giá của hàng hóa, dịch vụ trong nước đủ rẻ đối với người nước ngoài và các tài sản nước ngoài quá đắt để tạo ra doanh số bán hàng trong nước.

#4. Nợ công

tỷ-giá-hối-đoái

Do thâm hụt ngân sách, một quốc gia sẽ tài trợ quy mô lớn cho các dự án nhà nước và hoạt động của chính phủ bằng hình thức vay nợ. Mặc dù hoạt động này kích thích nền kinh tế trong nước, nhưng các quốc gia có thâm hụt ngân sách và nợ công lớn sẽ trở nên kém hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Lý do là vì một khoản nợ lớn thường dẫn đến lạm phát, và nếu lạm phát lên cao, chính phủ phải trả lãi cho các khoản nợ này và cuối cùng trả hết nợ với đồng đô la rẻ hơn trong tương lai.

Trong trường hợp xấu nhất, chính phủ có thể in tiền để trả một phần của một khoản nợ lớn, nhưng tăng cung tiền không tránh khỏi gây ra lạm phát. Hơn nữa, nếu chính phủ không có khả năng trả lãi cho thâm hụt thông qua các công cụ trong nước (bán trái phiếu trong nước, tăng cung tiền), thì họ sẽ phải tăng nguồn cung chứng khoán để bán cho người nước ngoài, do đó giá chứng khoán giảm xuống.

Cuối cùng, một khoản nợ lớn có thể là mối lo cho nhà đầu tư nước ngoài nếu họ tin rằng quốc gia này sẽ không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nhà đầu tư nước ngoài sẽ không muốn sở hữu chứng khoán đề mệnh giá bằng đồng tiền nước đó nếu nguy cơ vỡ nợ là rất lớn. Vì lý do này, xếp hạng nợ của một quốc gia (ví dụ như của Moody’s hay Standard & Poor) là một yếu tố quyết định đến tỷ giá hối đoái.

#5. Điều kiện thương mại

Là tỷ lệ so sánh giá xuất khẩu với giá nhập khẩu. Tỷ lệ trao đổi thương mại có liên quan đến tài khoản vãng lai và cán cân thanh toán. Nếu tốc độ tăng giá xuất khẩu của một quốc gia nhanh hơn tốc độ tăng giá nhập khẩu, thì tỷ lệ trao đổi thương mại đã được cải thiện tích cực.

Tỷ lệ trao đổi thương mại tăng cho thấy nhu cầu về hàng xuất khẩu của nước đó đang tăng, dẫn đến doanh thu từ xuất khẩu tăng, và nhu cầu cho nội tê tăng lên (và giá trị của đồng nội tệ tăng). Nếu tốc độ tăng trưởng của giá xuất khẩu chậm hơn so với nhập khẩu, giá trị của đồng nội tệ sẽ giảm tương đối với các đối tác thương mại.

#6. Tình hình chính trị và hiệu quả kinh tế

Các nhà đầu tư nước ngoài chắc chắn muốn đầu tư vào những quốc gia có nền chính trị ổn định với nền kinh tế hoạt động mạnh mẽ. Một đất nước có những đặc điểm này sẽ thu hút được nhiều đầu tư hơn so với các nước có rủi ro chính trị và kinh tế cao hơn. Ví dụ, bất ổn chính trị có thể làm giảm niềm tin của nhà đầu tư dành cho một đồng tiền và họ sẽ chuyển luồng vốn vào đồng tiền của các nước ổn định hơn.

#7. Đầu cơ

Việc đầu cơ vào bất kỳ thị trường tài chính nào là một hình thức giao dịch với kỳ vọng kiếm tiền khủng, kèm theo nguy cơ mất mát to lớn. Là thị trường tài chính lớn nhất trên thế giới, thị trường ngoại hối đặc biệt hấp dẫn đối với các nhà đầu cơ. Với đòn bẩy cao có sẵn trong Forex, các nhà đầu cơ có thể tạo ra lợi nhuận khổng lồ trong một khoảng thời gian rất ngắn.

Mặc dù thuật ngữ đầu cơ đôi khi được coi là có ý nghĩa tiêu cực, nhưng sự thật là chúng bổ sung rất nhiều vào tính thanh khoản tổng thể của thị trường và thu hẹp mức chênh lệch giá (spread). Mặt khác, đầu cơ cũng có thể làm tăng sự biến động của tỷ giá hối đoái và tác động tiêu cực đến các quốc gia có dự trữ ngoại hối hạn chế, đặc biệt là trong trường hợp các lệnh đầu cơ lớn.

Các nhà giao dịch ngoại hối quy mô nhỏ chiếm khoảng 5% tổng khối lượng hàng ngày, và phần lớn trong số họ suy đoán về sự gia tăng và giảm các loại tiền tệ thông qua giao dịch trong ngày. Tuy nhiên, các nhà đầu tư có quy mô lớn cũng sử dụng các lệnh đầu cơ để thu lợi nhuận, nhưng họ làm như vậy trong một khoảng thời gian lớn hơn và dựa trên các nguyên tắc cơ bản, như những điều vừa được nói đến.

#8. Tin tức thị trường

Các tin tức có thể tác động đến tỷ giá hối đoái bao gồm:

  • Tin tức chính trị, xã hội và các tin tức khác.
  • Dự báo kinh tế từ IMFM, OECR, World Bank – Ngân hàng thế giới và các tổ chức khác.
  • Các thay đổi xếp hạng tín dụng của Moody, Fitch, S&P và các tổ chức khác.

Cuối cùng là, một vài sự kiện thật sự bất ngờ như là động đất và các thiên tai khác. Những sự kiện này tác động tiêu cực đối với các nền kinh tế và, do đó cũng tiêu cực đối với tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, mối liên hệ không phải luôn luôn đơn giản. Ví dụ như, trở lại năm 2011, đồng Yên Nhật thực sự mạnh lên sau một trận động đất ở Nhật: lý do là các nhà đầu tư cảm nhận đồng Yên Nhật là kênh đầu tư an toàn và đồng tiền này đã tăng suốt quãng thời gian mà rủi ro của thị trường giảm giá đồng tiền xuống.

3. Chính phủ kiểm soát tỷ giá hối đoái như thế nào?

Ty gia hoi doai la gi

Chính phủ can thiệp tỷ giá hối đoái như thế nào?

Chính phủ can thiệp vào tỷ giá hối đoái qua những công cụ sau:

Nghiệp vụ thị trường mở thông qua các công cụ quỹ dự trữ và các nghiệp vụ vay mượn thị trường ngoại hối

Thông qua các công cụ nghiệp vụ thị trường mở, ngân hàng trung ương (NHTW) mua bán ngoại hối trên thị trường để tác động đến cung cầu ngoại hối và tiền tệ, qua đó tác động tới tỷ giá hối đoái.:

  • Khi tỷ giá cao, NHTW thông qua hệ thống ngân hàng thương mại sẽ đưa ngoại tệ dự trữ ra bán trực tiếp trên thị trường tạo tăng cung giả về ngoại hối nhằm giúp tỷ giá hối đoái có xu hướng ổn định trở lại.
  • Ngược lại, khi tỷ giá quá thấp, NHTW sẽ mua ngoại tệ vào để hỗ trợ tỷ giá tăng cao trở lại.

Tùy theo điều kiện riêng của từng quốc gia mà việc tổ chức thực hiện công cụ này với phạm vi và quy mô khác nhau. Việc can thiệp này thường không máy móc mà luôn cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng những nhân tố thực tại cũng như chiều hướng phát triển trong tương lai của nền kinh tế, thị trường tiền tệ và giá cả để lựa chọn đúng thời điểm và mức tỷ giá can thiệp. 

Để can thiệp có hiệu quả, một trong những điều kiện không thể thiếu được cho bất kỳ quốc gia nào là phải có một lượng ngoại tệ dự trữ đủ lớn để can thiệp thị trường khi cần thiết. Trong điều kiện giá luôn biến động như hiện nay, NHTW các nước thường luôn có quỹ dự trữ bình ổn tỷ giá hối đoái để điều chỉnh tỷ giá kịp thời. Quỹ dự trữ ngoại hối có thể bằng ngoại tệ hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế phát hành bằng ngoại tệ hay vàng, hoặc có thể thông qua vay mượn từ các ngân hàng nước ngoài

Điều chỉnh lãi suất (chiết khấu và tái chiết khấu)

Nếu giá trị đồng nội tệ giảm mạnh, NHTW có khuynh hướng sẽ tăng lãi suất chiết khấu qua các ngân hàng thương mại. Cuối cùng, lãi suất chiết khấu làm tăng lãi suất vay/ cho vay thương mại, gây ra dòng tiền nóng và làm tăng nhu cầu đối với đồng nội tệ. Khi lãi suất cao hơn, lợi tức từ gửi tiết kiệm ở quốc gia đó sẽ tương đối hấp dẫn hơn so với các nước khác. Nếu các nhà đầu tư muốn gửi tiết kiệm ở quốc gia này, thì sẽ có nhiều nhu cầu hơn đối với nội tệ và giá trị đồng nội tệ sẽ tăng. Và ngược lại khi tỷ giá giảm.

Tuy nhiên, động lực biến động của lãi suất và tỷ giá là không giống nhau. Lãi suất biến động dựa trên cung cầu thị trường vốn, trong khi tỷ giá dao động dựa trên thị trường tiền tệ và ngoại hối. Do đó, thực tế, điều chỉnh lãi suất chưa chắc sẽ ảnh hướng đến tỷ giá như mong muốn. 

Điều chỉnh lạm phát

Lạm phát thường có tác động tiêu cực đến tỷ giá hối đoái của 1 quốc gia. Tỷ lệ lạm phát rất thấp chưa chắc đảm bảo cho sự an toàn của tỷ giá hối đoái nhưng tỷ lệ lạm phát cao thì chắc chắn sẽ mang lại hậu quả không tốt đối với tỷ giá hối đoái.

Tỷ lệ lạm phát thấp ở mức hợp lý sẽ làm hàng hóa trong nước cạnh tranh hấp dẫn hơn so với hàng hóa nhập khẩu khác, do đó, sẽ làm tăng nhu cầu nội tệ hơn so với ngoại tệ. Và ngược lại, nếu tỷ lệ lạm phát cao.    

Phá giá tiền tệ

Phá giá tiền tệ xảy ra khi NHTW nhận thấy đồng nội tệ đang bị mất giá trầm trọng so với đồng ngoại tệ chính, và chính thức đánh sụt sức mua của đồng nội tệ xuống so với ngoại tệ khác, nhằm mục đích cuối cùng là bình ổn tỷ giá.

Việc phá giá đồng nội tệ sẽ có tác động nhiều mặt:

  • Một mặt, khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, làm tăng nguồn tiền từ nước ngoài chảy vào trong nước qua du lịch, bán hàng, xuất khẩu và đầu tư, hạn chế chuyển vốn ra bên ngoài để đầu tư hoặc du lịch. Do đó, làm tăng cung ngoại hối, giảm cầu ngoại hối và tỷ giá hối đoái ổn định trở lại
  • Mặt khác, phá giá tiền tệ cũng dẫn tới nhiều hậu quả, làm tăng nguy cơ của lạm phát vì nếu tiền nội tệ mất giá, người dân quốc gia đó sẽ rút tiền đầu tư vào các tài sản khác như đất, vàng, ngoại tệ để tích trữ dẫn tới sự bất ổn của nền kinh tế. Hơn nữa, chỉ những nước mạnh về tiền tệ và hàng hóa có sức cạnh tranh mới có thể phát huy được hiệu quả của phá giá tiền tệ, nếu không sẽ dẫn đến sự trả đũa của các quốc gia khác. Vì thế, NHTW các quốc gia cần cân nhắc kỹ khi thực hiện chính sách này.

 

Theo wiki, economicshelp.com

Tổng hợp bởi Vnrebates.net

Được viết bởi: Đặng Kiều




Giúp chúng tôi đánh giá nội dung của bài viết
Broker
Rebates/lot